Đề tài khoa học

CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY TỈNH KHÁNH HÒA.
Thạc sỹ: Phạm Đức Tân
Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Khánh Hòa

Đề tài  khoa học

QUANG CANH HOI THAO
CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHỆN MA TÚY TẠI CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY TỈNH KHÁNH HÒA
Thạc sỹ: Phạm Đức Tân
Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Khánh Hòa
 
Tại Khánh Hòa nói riêng, cũng như ở Việt Nam, hiện nay đã áp dụng rất nhiều hình thức, phương pháp cai nghiện nhưng hiệu quả thấp, số người tuân thủ điều trị không nhiều, tỷ lệ tái sử dụng ma túy ở mức rất cao. Ứng dụng công tác xã hội trong điều trị nghiện ma túy là vấn đề khá mới ở Việt Nam.
Đề tài: “Công tác xã hội hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy hội tỉnh Khánh Hòahy vọng sẽ là những đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho mỗi người nghiện, gia đình họ và cộng đồng. Đề tài nghiên cứu tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xã hội trong điều trị cho người nghiện ma túy.
PHẦN 1. MỞ ĐẦU:
Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: Cuối năm 2017, cả nước đang quản lý, điều trị, cai nghiện cho 32.610 người; Trong đó cai nghiện bắt buộc theo quyết định của tòa án là 21.323 người, cai nghiện tự nguyện tại cơ sở công lập 4.298 người; quản lý sau cai tại cơ sở cai nghiện 923 người, cai nghiện tại cơ sở tư nhân 3.420 lượt người; Quản lý tại cơ sở xã hội là 2.646 người. Điều trị thay thế bằng Methadone tại 282 cơ sở với 51.296 người. Cả nước có 2.725 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy (chiếm 24%); có 8.440 xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy (chiếm 76%) trong đó, trọng điểm loại I là 205 xã, phường, thị trấn (chiếm 2,5%); trọng điểm loại II là 339 xã, phường, thị trấn (chiếm 4,5%); Trọng điểm loại III là 1.644 xã, phường, thị trấn (chiếm 20%). Nhiều địa phương tập trung chỉ đạo làm giảm xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy như: Quảng Ngãi, Hải Dương, Hà Nội, Quảng Nam.
Theo thống kê của công an tỉnh Khánh Hòa, đến ngày 15/11/2017 số người nghiện có hồ sơ quản lý là 1.295 người, cụ thể: thành phố Nha Trang 445 người, thành phố Cam Ranh 183 người, huyện Diên Khánh 96 người, huyện Vạn Ninh 194 người, thị xã Ninh Hòa 185 người, Cam Lâm 50 ngưởi, Khánh Vĩnh 05 người. So với cuối năm 2016 tăng 102 người. Loại ma túy sử dụng: Heroin 853 người (65,9%); Ma túy tổng hợp 312 người (24,1%); Cần sa 130 người (10%). Có 101/140 xã, phường, thị trấn ở 7/8 huyện, thị xã, thành phố có người nghiện ma túy; Trong đó có 20 đơn vị trọng điểm loại III, 01 đơn vị trọng điểm loại II về ma túy.
PHẦN II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài: “Công tác xã hội hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy hội tỉnh Khánh Hòa” nghiên cứu: Các ứng dụng, hoạt động công tác xã hội với người cai nghiện tại Cơ sở như: Hoạt động chăm sóc y tế phục hồi sức khỏe; Hoạt động giáo dục, tư vấn chuyển đổi hành vi; Hoạt động lao động trị liệu; Hoạt động công tác xã hội nhóm; Hoạt động công tác xã hội cá nhân; Tư vấn nhóm, Tư vấn cá nhân; tham vấn; Hoạt động sinh hoạt vui chơi giải trí; Hoạt động kết nối điều trị. Hoạt động kết nối với gia đình, địa phương. Phạm vi nghiên cứu 100 học viên đang cai nghiện tại Cơ sở; 20 Cán bộ, nhân viên đang làm việc Cơ sở và 02 Cán bộ quản lý của Cơ sở. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp phỏng vấn sâu;Phương pháp quan sát; Phương pháp thống kê toán học; Phương pháp tham quan, học tập kinh nghiệm; Phương pháp tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia.
PHẦN III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN:
 3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong điều trị nghiện
* Về năng lực cán bộ làm công tác điều trị nghiện:
Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa có tổng cộng 37 công chức, viên chức và người lao động có trình độ chuyên môn như sau: Sau đại học 01 người chiếm 2,7%, đại học 18 người chiếm 48,7%, cao đẳng, trung cấp 14 người chiếm 37,8%, chưa qua đào tạo 04 người chiếm 10,8%. Cán bộ y tế gồm: 4 y sỹ, 02 điều dưỡng, 02 y tá. Nhân viên thực hiện công tác xã hội có bằng chuyên ngành phù hợp là 06 người.
* Về đặc điểm của người nghiện ma túy:
Người nghiện ma túy độ tuổi từ 18 đến 29 chiếm 68%, độ tuổi từ 30 đến 45 là 17%, độ tuổi từ 45 đến 60 là 15%. Có thể thấy rằng người sử dụng ma túy đang có xu hướng trẻ; chưa kết hôn chiếm 55% đa số còn trẻ và chưa lập gia đình; có 16/100 học viên không biết chữ chiếm tỷ lệ khá cao (16%), học viên học hết cấp 1, 2 là 74 (chiếm 74%) cho thấy học vấn thấp ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả của quá trình điều trị nghiện và các biện pháp dự phòng tái nghiện; 40% không có việc làm và 45% sống phụ thuộc kinh tế; sử dụng ma túy từ 01 đến 05 năm là chủ yếu chiếm tổng cộng 65%. sử dụng Heroin chiếm 64%, sử dụng Ma túy tổng hợp ATS (Ecstasy) chiếm 05%; Ma túy đá (Methamphetamin) 14%; Cần sa, cỏ Mỹ chiếm 08%; sử dụng bằng cách tiêm, chích chiếm 73% điều này gây rất nhiều khó khăn trong quá trình điều trị, đặc biệt là giai doạn cắt cơn, giải độc.
* Kết quả ứng dụng công tác xã hội:
Nhu cầu tham gia công tác xã hội của người cai nghiện là rất cao đánh giá ở mức rất cần thiết là 48%, mức độ cần thiết là 42%; có 58% học viên hiện đang tham gia các hoạt động công tác xã hội. 32% học viên đã có dự định tham gia. Số học viên không tham gia hoặc không muốn tham gia chiếm 10%. Đa số học viên đã hiểu được lợi ích của việc tham gia các hoạt động công tác xã hội, các hoạt động đem lại kiến thức, kỹ năng và niềm vui trong sinh hoạt hàng ngày. Theo bà Lê Thị Tuyết, Trưởng phòng Công tác xã hội, là nhân viên công tác xã hội hướng dẫn nhóm Hải Âu chia sẻ: “Tôi biết đa số mọi người đều cho rằng việc sinh hoạt nhóm đối với học viên này là không hiệu quả, không có lợi vì không học viên nào muốn học. Nhưng riêng tôi nghĩ chỉ tiếp xúc, gần gũi thường xuyên mới hiểu sâu xa những suy nghĩ, những tâm tư của các bạn. Tôi sẽ chia sẻ về một số học viên tôi đánh giá là nghiêm túc nhất qua từng nội dung và sự chia sẻ chân thành từ tâm hồn của các bạn. Có mấy ai nhìn thấy những giọt nước mắt của học viên khi được họ chia sẻ về bản thân mình. Tôi là người được chứng kiến và cảm nhận được đây là những giọt nước mắt của một người con đã nhận ra được lỗi lầm của bản thân trong suốt thời gian qua.”
Biểu đồ: Cơ chế chính sách đối với người nghiện ma túy


Nguồn: Kết quả khảo sát tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Về nội dung chính sách rất ảnh hưởng chiếm tỷ lệ 52%, ảnh hưởng vừa chiếm tỷ lệ 23%, ảnh hưởng ít chiếm tỷ lệ 12% và không ảnh hưởng 13%/100 học viên; Về thực hiện chính sách rất ảnh hưởng chiếm tỷ lệ 48%, ảnh hưởng vừa chiếm 18%, ít ảnh hưởng chiếm 22% và không ảnh hưởng chiếm 12%.
Biểu đồ: Yếu tố do đặc điểm của người nghiện ma túy

Nguồn: Kết quả khảo sát tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Kết quả khảo sát cho thấy:
Về đặc điểm sức khỏe: rất ảnh hưởng chiếm 39%, ảnh hưởng vừa chiếm 37%, ảnh hưởng ít chiếm 11% và có 13% là không ảnh hưởng.
 Về đặc điểm tâm lý: rất ảnh hưởng chiếm 29%, ảnh hưởng vừa chiếm 40%, ảnh hưởng ít chiếm 15% và không ảnh hưởng chiếm 14%.
 Đặc điểm về nhận thức: rất ảnh hưởng chiếm 29%, ảnh hưởng vừa chiếm 43%, ảnh hưởng ít chiếm 15% và không ảnh hưởng chiếm 13%.
Đặc điểm tình cảm rất ảnh hưởng chiếm 29%, ảnh hưởng vừa chiếm 37%, ít ảnh hưởng chiếm 14% và không ảnh hưởng chiếm 20%.
Đặc điểm về hành vi: rất ảnh hưởng chiếm 100%, ảnh hưởng vừa chiếm 29%, ít ảnh hưởng chiếm 16% và không ảnh hưởng chiếm 17%.
 Yếu tố thuộc về gia đình người cai nghiện ma túy: Kết quả khảo sát cho thấy có 52% đánh giá yếu tố giá đình rất ảnh hưởng đến người nghiện ma túy, cho thấy yếu tố gia đình là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả của quá trình điều trị nghiện, gia đình là chỗ dựa, là yếu tổ hỗ trợ mọi mặt cho học viên trong việc điều trị và dự phòng tái nghiện.
Biểu đồ:Yếu tố thuộc về năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội